Skiathos / Đó chính là nước - Tu Nguyen Wedding

Skiathos / Đó chính là nước

Greek Orthodox Wedding in Skopelos

Từ Skopelos đi chuyến phà nhanh của Hellenic Seaways quay lại Skiathos mất 35 phút. Nước biển xanh ngắt, bập bềnh kéo dài đến tận chân trời không một bóng mây. Tôi nhìn chăm chăm vào khoảng xanh bất tận ấy, một khuôn mẫu của một thứ vô hình thù như nước bỗng hiện ra. Khi đi máy bay tôi rất hay ngủ và dễ ngủ nhưng đi phà thì tuyệt đối không, kể cả cái lần đi đảo Hydra từ Athen gần ba tiếng. Vẫn ngóng vào sự lả lướt bập bềnh đại dương, tay chân không làm gì cả, tiếng nhạc réo rắt qua tai nghe dần trôi xa như đến từ một nơi xa lắm, bất chấp tiếng ồn kinh khủng của động cơ, tôi chìm dần vào trạng thái yên tĩnh nội tại tuyệt đối. Một cảm giác thật sự thoải mái. Mắt hơi nheo vì ánh nắng Hy Lạp tháng Tám phản chiếu qua những con sóng thi thoảng vỗ mạnh bên cửa kính bẩn thỉu không được cọ rửa, tôi vẫn không ngủ. Nước thật mềm, nhưng bạo liệt và có sức khơi gợi.

David Foster Wallace từng viết một bài tiểu luận tên "Đó là nước." - truyện kể rằng có hai chú cá trẻ dạo chơi chậm rãi qua một ông cá già. Ông già mới chào hai gã rằng, "Xin chào các cậu, hôm nay nước thế nào?" Không nói gì, chúng lẳng lặng bơi tiếp. Mãi một lúc sau, hai gã mới quay sang tự hỏi nhau, "Này, Nước là cái quái gì thế?"

Cuộc sống chính là nước.

Loài người, một giống loài động vật có ý thức và chúng ta sống, tận đến lúc thân xác héo khô nhăn nheo vì tuổi già vẫn ám ảnh với câu hỏi, "Cuộc sống và ý nghĩa của cuộc sống là gì?" Tại sao ta lại đau đáu đi tìm câu trả lời đến thế? Hằng hy vọng rằng hiểu thêm một chút về đời sẽ giúp tôi và bạn "kiểm soát" và mang lại một cuộc sống đủ đầy hơn?

Cuộc sống chính là sự nhận thức về bản thân và giá trị của nó, rằng con người mình đang tồn tại và được làm những thứ khiến ta cảm thấy mình thực sự đang sống. Với người này, nó có thể nấu ăn, chăm chút nhà cửa, trồng cây mà những người phụ nữ tân tiến chê nhạt. Với người kia, sống lại là những cung đường đạp xe, leo trèo rợn tóc gáy hay môn thể thao mạo hiểm mà người bình thường nói khùng điên chán sống. Hay một giấc mơ “viển vông" trong mắt người khác. Cứ sống, dù sống một cuộc đời hiển hách, buồn tẻ, tầm thường, giản đơn hay dị biệt, miễn hạnh phúc, thấy là đủ.

“Điều tôi thực sự muốn làm bây giờ là ra ngoài đi dạo quanh bờ sông Elbe, ngồi bệt xuống một tảng đá và nhúng chân mình xuống mặt nước lạnh cóng. Tôi nhớ rằng mình vẫn hay làm thế hồi bé khi cả nhà đi nhặt gỗ dọc bờ sông. Nếu được sống lại lần nữa thì tôi sẽ sống khác đi, chẳng đi nhặt gỗ làm gì nữa cả. Nhưng liệu có ai trong chúng ta được một cơ hội thứ hai? Tôi nghĩ là không có. Chúng ta chỉ tin những gì mình thấy và chỉ thấy những gì vốn đã ở sẵn đó...”

Nước với tôi là gì nhỉ?

Greek Orthodox Wedding in Skopelos

Từ bến cảng Skiathos Town có hai tuyến bus công cộng: bus xanh, to lớn, chạy 20 phút một chuyến theo đường vành đai xuống phía Tây Nam tới bãi biển Koukounaries, một trong những địa điểm yêu thích nhất của dân du lịch khi tới đây. Bus đỏ, chỉ chứa được 12 người, một ngày có bảy chuyến, chạy lên phía Bắc về tu viện Moni Evangelistria.

Năm giờ ba mươi phút chiều ở gần bến cảng. Gió từ biển Aegean thổi dịu nhẹ. Một chiếc máy bay của Aegean Air hạ thấp sát mặt nước, không xa ngay trên đầu tôi để chuẩn bị hạ cánh xuống đường băng hẹp và ngắn nhất châu Âu (chỉ dài 1.7 cây số) phía bên kia cảng. Hai cô gái khoác tay nhau đi trong nắng, mơn mởn như hai linh hồn riêng biệt của Skiathos, phía Nam hừng hực mạnh mẽ, dữ dội, nhiều khi khiến ta ngạt thở cần phải cách ly, phía Bắc hoang sơ, nhưng dưới vẻ đẹp sững sờ kiệm lời ấy tồn tại sức mạnh hơn cả sóng biển.

Hai cô nhập hội với chiếc bus xanh tràn ngập các chàng trai cô gái xinh đẹp mặc đồ bơi đi tắm biển thật thích mắt. Vì có mỗi mình tôi và một đôi tình nhân già người Anh chờ bên bến xe đỏ nên bác tài kêu chờ thêm mười lăm phút nữa, nhưng rốt cuộc cũng chẳng có ai lên xe nữa. Ờm, vậy tôi là một linh hồn già cỗi, được thôi!. Tôi nhớ không lầm là từ tu viện Moni Evangelistria đi bộ hai tiếng là đến phần bỏ hoang còn lại của thành cổ Il Kastro (nghĩa là lâu đài trong tiếng Hy Lạp), và ở chân lâu đài Kastro cũng có bãi biển Kastro đẹp nhất Skiathos mà ít người lui tới. 

Xe phóng qua con đường đèo ven núi nhìn ra biển thật đẹp, Skiathos hòn đảo party đông đúc đến ngạt thở, nhất là từ chiều muộn đến đêm (mệnh danh Mykonos của vùng biển Aegean) là thế, nhưng đi chưa đầy năm phút khỏi cảng tôi đã tim thấy sự bình yên và yên tĩnh yêu thích. Moni Evangelistria được xây dựng năm 1794, nơi đóng vai trò quan trọng trong cuộc khởi nghĩa dành độc lập cho Hy Lạp năm 1821, đẹp hơn nhiều những gì tôi đã tra trên Google. Có ba thầy tu sống ở đây nhưng tôi không thấy bóng dáng họ đâu, nơi này như của riêng bốn chú mèo nằm ườn oài ôm nhau sưởi nắng. Vừa đặt cặp xuống đất để định chụp một tấm ảnh thì chúng đã lao đến nhanh như cắt, có con còn leo lên đùi tôi nằm và gừ gừ khoái chí khi được gãi.

- Bốn năm trước khi tôi đến đây, con vàng đó có đẻ được bốn chú mèo con bé xíu. Có bảy con mèo tất cả. Không biết giờ chúng đi đâu mất rồi? Anh có muốn tôi chụp cho một tấm Polaroid với lũ mèo không?

Cô gái áo đỏ tên Irina nói với sau lưng tôi. Năm nào cô cũng cùng em trai và bố mẹ từ Bulgaria sang Hy Lạp chơi. Irina sống ở Paris đã 15 năm nay, cô là đạo diễn quảng cáo của agency QUAD Production (tôi cũng rất thích cả Bruno Aveillan ở QUAD), và tình cờ mấy năm trước tôi đã từng xem và thích mấy phim cô làm cho Cartier, Louis Vuitton trên vimeo... Thế giới thật nhỏ.

- Để tôi chụp cho cô một tấm với lũ mèo luôn nhé? Irina có phải tên Nga không nhỉ? Chris, lại đây chụp cùng luôn đi.

Trong khi Irina mải mê nói về cái tên Irina của cô bắt nguồn từ Irene trong tiếng Hy Lạp, “Irene nghĩa là bình yên, hiện thân của nữ thần hoà bình trong thần thoại hy lạp, cũng là tên của nữ hoàng đầu tiên trong lịch sử, nữ hoàng Irene Sarantapechaina từ Athen của đế quốc Byzantine...”, thì lũ mèo lại chạy biến sang chỗ tôi đứng, có lẽ chúng đánh hơi được túi bánh tôi để trong cặp.

- Haha, có lẽ chúng thích anh hơn tôi. Mà này, chúng tôi có xe và đang định đi Il Kastro. Tắm biển giờ ở đó vắng lắm, không đông như Koukounaries hay Lalari. Sau đó leo lên thành cổ ngắm hoàng hôn, anh đi không? Mười lăm phút nữa hẹn nhau ở cổng tu viện nhé.

Trên đường lái xe đi Kastro, tôi mới biết gã Chris em trai Irina từng học công nghệ thông tin ở Munich và giờ ở đó làm việc luôn. Tôi đùa hắn một câu giễu cợt tiếng Đức và cả hai cùng cười phá lên thích thú. Hắn sau đó kể cho tôi một đống truyện thú vị về thành cổ Kastro gắn liền với sự bi hùng của lịch sử Skiathos ra sao. Không ngờ rằng một hòn đảo nhỏ như Skiathos từng trải qua nhiều biến động đến vậy.

“Trước khi có đất nước Hy Lạp cổ đại, bắt đầu từ hai nghìn năm trước Công Nguyên, Skiathos lần lượt được người Pelasgian, người Crete và người Mycenaean tìm đến sinh sống nhờ vị trí đắc địa và đất đai màu mỡ. Những thành trì đầu tiên xuất hiện vào khoảng thế kỷ sáu, bảy trước Công Nguyên được xây bởi người đảo Chalkis và Evia.

Từ năm 500 trước Công Nguyên đến 200 sau Công Nguyên, Skiathos là miếng mồi ngon bị giành đi giật lại giữa người Sparta, Hy Lạp, Macedonia và sau này cả đế quốc La Mã. Từ năm 330 đến năm 1453, đế quốc Byzantine với thủ đô Constantinople từng bước vươn lên thành một cường quốc có vai trò quan trọng ở châu Âu và được xem là một trong những trung tâm của Kitô giáo lúc bấy giờ. Từ năm 527 đến năm 565, lợi dụng lúc các vương quốc “man tộc” ở Tây Âu chưa ổn định, Byzantine đã tiến hành mở rộng bờ cõi sang Bắc Phi, Đông Nam Tây Ban Nha và bán đảo Italia, trong đó có cả Skiathos và nhiều đảo khác ở vùng biển Aegean.”

Greek Orthodox Wedding in Skopelos

Nhà thơ Alexandros Papadiamantis (tên ông được dùng cho sân bay Skiathos) đã dành trọn cuộc đời viết về Skiathos, nơi ông sinh ra và chết đi, đồng thời cũng là nguồn cảm hứng sáng tạo bất tận của Papadiamantis. Một người quan sát, một nhà nhân chủng học đáng kính với những vần thơ giàu chất văn đã khai sinh ra văn xuôi Hy Lạp hiện đại, người được John Tavener gọi là Dostoevsky của Hy Lạp. Người cha già Skiathos đặc biệt viết nhiều về thành cổ Il Kastro với những “At The Christ of Kastro”, “The Impact”, “The Black Logs", “The Bewitching Of The Aga”, “The Wedding Of Karahmeti", “Memories Of The 15 August", “The Child Of Hadtzi", “The Poor Saint"....

Bắt đầu từ thế kỷ VII, cướp biển Thổ Nhĩ Kỳ Saracen hoành hành khắp vùng biển Aegean và Skiathos cũng không thoát khỏi số phận chung. Để sống sót khỏi cơn thảm sát khát máu ấy, người dân Skiathos bỏ cảng Skiathos lên núi ở và xây dựng thành cổ Il Kastro, pháo đài đá nằm ở cực Bắc của đảo, ba mặt bao quanh bởi những vách đá dốc đứng hiểm trở nhìn ra biển. Il Kastro chỉ có các bức tường thấp bao quanh, pháo đài kiên cố nhất nằm ở phía nam, nơi có lối vào duy nhất, một cửa hẹp được bảo vệ bằng cầu gỗ và vạc dầu sôi (được kéo lên vào ban đêm). Sau hàng trăm năm nằm dưới sự sở hữu của lần lượt đế quốc Byzantine, nước cộng hoà Venezia, đế quốc Ottoman, quân khởi nghĩa giành độc lập Hy Lạp, Il Kastro vẫn hiên ngang nằm đây với nắng gió, bỏ hoang và ít người lui tới. Khi chúng tôi đến nơi, chỉ có vài người dân từ Skiathos Town cùng thầy tu đang cầu nguyện trong một căn nhà đá không nóc dưới ráng chiều. Một tháng họ lại đến đây một hai lần làm lễ vinh danh đức mẹ đồng trinh, mùi nến, mùi gia vị, mùi hương đượm lên thơm phức.

Ở dưới sườn núi có ba chú dê và một con lừa đen đang gặm bụi cây. Biển lặng yên, đến gió cũng như ngừng thổi. Tôi bật Hey There và để cho tưởng tượng quyện lẫn làm một với thực tại.
 Những người bạn chuyền cho tôi chai nước và chiếc bánh. Xa xa, phía trước rặng núi Maurovouni, mặt trời rạng hồng tròn xoe. Một trong những hoàng hôn rực rỡ nhất tôi từng được ngắm. Tôi nhắm mắt lại.

Phải, đó chính là nước.


© Tu Nguyen Wedding Photography in Greece, Italy, Spain, France & Germany // +49 176 5650 8077 // info@tunguyenwedding.com

Powered by SmugMug Log In